Mỗi một quốc gia đều chọn cho mình một biểu tượng đặc trưng riêng thông qua Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca, Quốc hoa, trang phục, món ăn, linh vật,… Và ở “xứ sở Kim Chi” Hàn Quốc cũng không ngoại lệ. Hãy cùng khám phá xem những biểu tượng này có gì đặc biệt nhé!

TAEGEUKGI (CỜ THÁI CỰC) – QUỐC KỲ HÀN QUỐC

Nguồn gốc

Các vương triều trong lịch sử Hàn Quốc không có truyền thống sử dụng quốc kỳ. Những vấn đề liên quan đến việc chế định và chọn lựa quốc kỳ bắt đầu xuất hiện từ năm 1880 nhưng vẫn chưa được quan tâm nhiều. Trong chuyến công du đến Nhật Bản vào tháng 8 năm 1882, sứ thần Park Young-hyo đã sáng tạo nên lá cờ thái cực với vòng tròn thái cực lưỡng nghi gồm một nửa màu đỏ và một nửa màu xanh ở giữa, 4 bên là 4 ký hiệu màu đen biểu tượng cho 4 quẻ trong bát quái và nó đã trở thành khởi nguồn của lá quốc kỳ Hàn Quốc ngày nay.

Chế định quốc kỳ

Lá cờ Thái cực bắt đầu được chọn làm quốc kỳ từ năm 1883 nhưng chưa có chỉ dẫn tiêu chuẩn chính thức nào vào thời điểm đó.

Năm 1948, cùng với việc thành lập chính phủ Đại Hàn Dân Quốc, quy định về tiêu chuẩn lá cờ đã được ban hành.

Ngày 15 tháng 10 năm 1949, quy định của Bộ Giáo dục chính thức ban hành quy định về việc chọn lá cờ thái cực làm quốc kỳ của Đại Hàn Dân Quốc.

Sau đó, những pháp lệnh liên quan như Luật chế tác quốc kỳ (Thông báo của Bộ Giáo dục năm 1950), Luật kéo quốc kỳ (thông báo của Tổng thống năm 1964)… đã được thi hành.

Hình dáng và ý nghĩa của cờ Thái cực

Quốc kỳ Hàn Quốc bao gồm 1 vòng tròn được tạo thành bởi 2 hình bán nguyệt, 1 màu xanh và 1 màu đỏ có dạng như lốc xoáy, 4 góc là 4 nhóm vạch nổi bật trên nền trắng tượng trưng cho 4 quẻ trong bát quái của âm dương ngũ hành. Thiết kế của nó tượng trưng cho thuyết âm dương của triết lí phương Đông. Vòng tròn ở giữa lá cờ chia thành 2 phần bằng nhau. Phần màu xanh là biểu tượng của âm, tượng trưng cho hy vọng. Phần màu đỏ tượng trưng cho dương, chỉ sự tôn quý. Vòng tròn âm dương này tượng trưng cho sự sinh thành phát triển tương hỗ lẫn nhau trong quan hệ đối lập. Vì vậy, thái cực là căn nguyên của vạn vật trong vũ trụ, là khởi nguồn của sinh mệnh con người. Nó là sự tuần hoàn vĩnh cửu không bao giờ dứt.

Bốn góc xung quanh hình tròn là bốn hình khối. Mỗi hình khối tượng trưng cho một trong 4 yếu tố của vũ trụ: Góc trên – bên trái: Trời; Góc trên – bên phải: Nước; Góc dưới – bên trái: Lửa; Góc dưới – bên phải: Đất.

Nó còn thể hiện 4 quẻ trong bát quái: Quẻ Càn tượng trưng cho trời, mùa xuân, phương Đông và lòng nhân từ; Quẻ Khôn tượng trưng cho đất, mùa hè, phương Tây và sự ngay thẳng hào hiệp; Quẻ Khảm tượng trưng cho mặt trăng, mùa đông, phương Bắc và sự thông thái; Quẻ Ly tượng trưng cho mặt trời, mùa thu, phương Nam và lễ nghĩa. Bốn quẻ này tuần hoàn phát triển không có điểm dừng: Càn Ly Khôn Khảm Càn.

Nền của lá cờ màu trắng biểu tượng cho ánh sáng và sự tinh khiết phản ánh khát vọng truyền thống của người Hàn Quốc hướng tới hòa bình. Trong lịch sử, dân tộc Hàn có truyền thống mặc áo trắng và được gọi tên là “dân tộc Bạch y”. Bởi vậy màu trắng cũng được xem là màu biểu tượng cho dân tộc Hàn.

Quốc kỳ Hàn Quốc  tượng trưng cho uy quyền và sự tôn nghiêm, thể hiện truyền thống và ý tưởng của quốc gia qua màu sắc và hình dáng đặc trưng riêng. Như vậy, cờ Thái cực – Quốc kỳ Hàn Quốc là tượng trưng cho sự trường tồn mãi mãi, cho hy vọng và hòa bình.

QUỐC HUY HÀN QUỐC

Quốc huy đã được sử dụng tại các quốc gia nhằm biểu tượng cho quyền lực của một quốc gia, một tổ chức hoặc một gia tộc. Quốc huy của Hàn Quốc gồm có biểu tượng taeguk trên quốc kỳ xung quanh là 5 cánh hoa cách điệu và dây ruy băng mang dòng chữ “Đại Hàn Dân Quốc” (Daehan Minguk), tên chính thức của quốc gia, bằng Hangul. Thái cực đại diện cho hòa bình và hòa hợp. Năm cánh hoa đều mang ý nghĩa và liên quan đến quốc gia Hàn Quốc, hoa dâm bụt, hoặc hoa hồng Sharon (mugunghwa).

Hàn Quốc thông qua quốc huy vào năm 1963, ở dạng huy hiệu hoặc được rập nổi. Khi được rập nổi, quốc huy mang hai màu, màu xanh được thể hiện với màu đen và những màu khác thể hiện bằng màu trắng.

AEGUKGA – QUỐC CA HÀN QUỐC

Aegukga (tiếng Hàn: 애국가, tiếng Việt: Ái quốc ca) là bài quốc ca chính thức của Hàn Quốc.

Nguồn gốc ra đời

Năm 1896, lời bài Aegukga có lẽ đã được sáng tác tại lễ khởi công công trình Cổng Độc Lập tại Seoul. Tác giả của Aegukga là Yoon Chi-ho (hay tên khác là An Chang-ho) – một nhà chính trị và nhà giáo dục theo tư tưởng độc lập khỏi đế quốc Nhật Bản. Lúc đầu, quốc ca được phổ nhạc trên bài Auld Lang Syne (dân ca Scotland) do các nhà truyền giáo của Mỹ phổ biến. Bài hát này được biết đến rộng rãi như một bài quốc ca.

Sau đó, có một nhà soạn nhạc tên là Ahn Eak-tai đã chỉ ra điểm bất hợp lý khi một bài ca yêu nước lại được hát theo giai điệu một ca khúc dân ca nước ngoài, vì vậy ông đã soạn phần nhạc mới cho ca từ gốc vào năm 1963. Tuy nhiên, trước năm 1948, người ta vẫn tiếp tục sử dụng bản Aegukga cũ chứ chưa sử dụng phần nhạc do Ahn Eak-tai soạn lại.

Cùng với sự ra đời của chính phủ Đại Hàn Dân Quốc, chế định về quốc ca cũng chính thức được ban hành và “Aegukga” của Ahn Eak-tai trở thành tên gọi của quốc ca Hàn Quốc.

Nội dung của Aegukga

* Giai điệu: Được hát theo gam A trưởng hoặc G trưởng nhịp 4/4. Bản nhạc có 16 câu, kết cấu theo hình thức chương, đoạn với ca từ được chia làm 4 đoạn với hình thức nhịp đôi a-b-c-d. Bản nhạc ngắn gọn, súc tích và trang nghiêm.

* Ca từ: Bản nhạc gợi nên nỗi buồn mất nước và bầu không khí ảm đạm dưới ách thống trị của phát xít Nhật. Nhưng vượt lên trên nỗi buồn, sự bi thương đó là lời ngợi ca vẻ đẹp của đất nước, khát vọng chấm dứt xiềng xích nô lệ, đứng lên giành lại độc lập, chủ quyền và phát triển đất nước.

Lời bài hát Aegukga

Quốc ca Hàn Quốc gồm có bốn khổ, tuy nhiên chỉ có khổ thứ nhất và phần điệp khúc được hát.

* Tiếng Hàn:

1: 동해 물과 백두산이 마르고 닳도록
하느님이 보우하사 우리나라 만세

2: 남산 위에 저 소나무 철갑을 두른 듯
바람서리 불변함은 우리 기상일세

3: 가을 하늘 공활한데 높고 구름 없이
밝은 달은 우리 가슴 일편단심일세

4 이 기상과 이 맘으로 충성을 다하여
괴로우나 즐거우나 나라 사랑하세

Điệp khúc: 무궁화 삼천 리 화려 강산
대한 사람 대한으로 길이 보전하세

* Phiên âm:

1: Donghae mulgwa Baekdusani mareugo daltorok
Haneunimi bouhasa urinara manse

2: Namsan wie jeo sonamu cheolgabeul dureun deut
Baram seori bulbyeonhameun uri gisangilse

3: Ga-eul haneul gonghwalhande nopgo gureum eopsi
Balgeun dareun uri gaseum ilpyeondansimilse

4: I gisanggwa i mameuro chungseong-eul dahayeo
Goiro’una jeulgeo’una nara saranghase

Điệp khúc: Mugunghwa samcheonri hwaryeogangsan
Daehansaram daehaneuro giri bojeonhase

* Lời Việt:

1: Dù Đông Hải khô cạn, núi Bạch Đầu mòn, Trời sẽ bảo vệ chúng ta, Tổ quốc muôn năm!

2: Nam Sơn đứng vững vàng trong sương gió như thể được mang giáp, tinh thần quật khởi của chúng ta cũng như vậy.

3: Trời thu trong xanh, cao ngàn dặm, không một bóng mây, trăng sáng ở trong tim ta vẫn vẹn nguyên một hình hài.

4: Với tinh thần và trí óc, hãy trao lòng trung thành của chúng ta. Yêu đất nước dù trong gian lao hay hạnh phúc.

Điệp khúc: Sông núi hoa lệ dài ba ngàn lý mọc đầy hoa dâm bụt, người Đại Hàn mãi đi trên con đường Đại Hàn, bảo toàn cả giang sơn của chúng ta.

MAGUNGHWA – QUỐC HOA HÀN QUỐC

Hàng năm từ tháng 07 đến tháng 10, hoa Mugunghwa (hồng Sharon hay Mộc cận) nở rộ trên khắp đất nước. Không giống như hầu hết các hoa khác, Mugunghwa có sức sống mạnh mẽ, có thể chống chọi lại với bệnh bạc lá và côn trùng.

Nguồn gốc của hoa Mugunghwa

Mugunghwa có nguồn gốc từ vùng Tiểu Á (hay Anatolia, có nghĩa là “mặt trời mọc”, “phía đông” là một bán đảo của châu Á mà ngày nay thuộc Thổ Nhĩ Kỳ). Tuy nhiên, nó lại có mặt phổ biến ở Ấn Độ.

Mugunghwa còn có một số tên gọi khác như hoa hồng Sharon, bụp hồng cận, dâm bụt kép, râm bụt kép, mộc cận, hồng cận biếc, là một loài thực vật có hoa trong họ Cẩm quỳ.

Hoa hồng Sharon có thân cây cao khoảng hai đến ba mét, thẳng đứng, vỏ cây có màu xám. Lá của hồng Sharon dài khoảng bốn đến 10 cm có hình dáng giống quả trứng và mọc đan xen vào nhau.

Hàng năm từ tháng 07 đến tháng 10, hoa hồng Sharon nở rộ trên khắp đất nước.

Tại sao Mugunghwa trở thành quốc hoa Hàn Quốc?

Cũng giống như quốc kỳ, quốc huy hay quốc ca, việc hoa Mugunghwa được chọn làm quốc hoa là do quy định của Hàn Quốc. Từ ngàn xưa, hoa Mugunghwa đã được xem là biểu tượng cho tinh thần đoàn kết của dân tộc Hàn.

Tình yêu của người Hàn Quốc dành cho loài hoa này được thể hiện rõ nét khi những ca từ “Hoa Mugung nở ngàn dặm trên những ngọn núi và ở bên những dòng sông tươi đẹp” đã mở đầu cho một đoạn điệp khúc trong quốc ca của Đại Hàn Dân Quốc. Các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp của Hàn Quốc đều lấy hoa Mugunghwa làm biểu tượng và để cắm quốc kỳ cũng được quy định làm theo hình dạng của nụ hoa Mugunghwa.

Hoa hồng Sharon đã trở thành một biểu tượng quan trọng của Hàn Quốc trong nhiều thế kỷ qua. Chính vì lẽ đó mà Mugunghwa là quốc hoa Hàn Quốc.

Ý nghĩa quốc hoa của Hàn Quốc

Hoa Mugunghwa mang vẻ đẹp giản dị, là biểu tượng cho tính cách của người Hàn. So với các loại hoa khác, hoa Mugunghwa có sức chịu đựng rất dẻo dai, tượng trưng cho sinh lực mạnh mẽ. Cho dù bông này có rụng xuống thì bông khác sẽ lại nở tiếp, bởi vậy nó cong được xem là biểu tượng của tinh thần bất khuất. Ngoài ra, hoa Mugunghwa còn nhiều công dụng khác, nụ hoa được dùng làm rau, cánh hoa và quả được dùng làm thuốc hoặc pha trà. Với những công dụng và sự hữu ích lớn như thế, Mugunghwa quả thật là loài hoa được sinh ra “vì con người và giúp ích cho con người”.

HANBOK – TRANG PHỤC TRUYỀN THỐNG

Mỗi quốc gia đều có những trang phục truyền thống riêng của mình. Nếu “xứ sở mặt trời mọc” có Kimono; Trung Quốc có sườn xám; Việt Nam có áo dài; thì trang phục truyền thống Hàn Quốc là Hanbok. Ngoài giá trị thẩm mỹ, Hanbok còn mang ý nghĩa văn hoá sâu sắc, chứa đựng cốt cách của con người Hàn Quốc.

Xuất xứ của Hanbok

Cách đây khoảng 100 năm, Hanbok là trang phục mặc thường ngày của người Hàn Quốc. Ngày nay, họ chỉ mặc loại trang phục truyền thống này vào các dịp lễ hay những ngày kỷ niệm đặc biệt. Hầu hết mỗi người dân Hàn Quốc đều có riêng cho mình một bộ Hanbok để mặc vào những dịp đặc biệt. Trẻ em mặc Hanbok vào sinh nhật tròn 1 tuổi và người lớn mặc Hanbok trong lễ cưới hay sinh nhật tròn 60 tuổi của mình. Ngoài ra, Hanbok cũng được mặc trong tang lễ hay các nghi thức tôn giáo. Một số làng, huyện mang lối sống truyền thống vẫn mặc trang phục truyền thống Hanbok thường ngày.

Trong lịch sử của Hàn Quốc có hai bộ Hàn phục dành riêng cho giai cấp quý tộc và dân thường. Giai cấp quý tộc sử dụng trang phục may theo kiểu cách nước ngoài, dân thường mặc bộ trang phục truyền thống Hàn Quốc Hanbok.

Hiện nay, trang phục truyền thống này có màu sắc sặc sỡ rất đặc trưng, các đường kẻ đơn giản và không có túi. Người Hàn Quốc quan niệm rằng con người được tạo ra bởi sự hòa hợp giữa trời – đất, nước – lửa, cây – gió. Từ những yếu tố đó mà Hanbok truyền thống Hàn Quốc đã được hình thành trong sự kết hợp giữa đường nét đến sự phong phú của màu sắc tự nhiên. Mộc mạc nhưng sang trọng, Hanbok dường như tham gia vào mọi hoạt động sống của người dân xứ Hàn.

2. Đặc điểm của Hanbok

* Chất liệu

Sống trong một môi trường tự nhiên với 3 mặt giáp biển, nhiều núi ít đồng bằng và khí hậu 4 mùa rõ rệt, người Hàn Quốc đã phát triển nền văn hóa ăn, mặc, ở vô cùng độc đáo và ưu việt: Trang phục đặc trưng và truyền thống của Hàn Quốc Hanbok

Để chống chọi với mùa đông lạnh giá và mùa hè nóng bức, người Hàn Quốc đã tìm tòi nhiều loại nguyên liệu đa dạng để làm trang phục như sambe (sợi gai dầu), mosi (cây gai). Những loại nguyên liệu này đã được kết hợp với nhau để dệt ra loại vải ramie và được nhuộm màu bằng các sản phẩm có sẵn trong tự nhiên như hoa hoặc vỏ cây, sau đó vắt nước rồi sấy khô.

Tùy theo điều kiện thời tiết mà người ta sử dụng các loại vải khác nhau. Khi thời tiết lạnh giá như ở khu vực phía Bắc, chất liệu làm Hanbok sẽ dày dặn hơn, có thể nhồi thêm bông mềm vào giữa hai lớp lụa hoặc vải bông rồi khâu chúng lại bằng các đường khâu mảnh. Vào mùa hè, người ta sử dụng chất liệu mỏng và thoáng mát. Đặc biệt vào mùa thu, rất nhiều phụ nữ thích mặc quần áo làm từ lụa tơ mỏng bởi vì khi chuyển động, quần áo sẽ phát ra tiếng sột soạt giống như âm thanh khi dẫm lên lá khô. Những trang phục này có điểm nhấn là những đường nét duyên dáng, tạo nên khí chất thanh cao, quý phái.

* Màu sắc

Trong quá khứ, người Hàn Quốc có xu hướng thích màu trắng giản dị hơn là những bộ quần áo màu sắc sặc sỡ nhiều trang trí họa tiết. Đó là lý do tại sao họ được gọi là “dân tộc áo trắng” hay “dân tộc yêu chuộng hòa bình”. Tuy vậy, tùy theo từng thời kỳ và địa vị xã hội, người Hàn Quốc cũng mặc những bộ quần áo màu sắc rực rỡ với các họa tiết cầu kỳ.

Ngày nay, có 5 sắc màu được nhiều người Hàn Quốc ưa chuộng là đỏ, xanh da trời, vàng, đen và trắng. Đó là 5 sắc màu chủ yếu theo triết lý âm dương và ngũ hành của phương Đông. Màu trắng tượng trưng cho sự trong sáng, lòng chính trực và là màu sắc được sử dụng nhiều nhất cho Hanbok. Giai cấp, tầng lớp quý tộc có thể mặc trang phục pha thêm các màu đỏ, vàng, xanh nước biển hoặc đen.

* Hình dạng

Người Hàn Quốc miêu tả bộ trang phục truyền thống của mình là “trên hẹp, dưới rộng”. Phần áo phải ôm sát và phần váy thì phải rộng, thoải mái, giống như Hanbok của phụ nữ Hàn trong triều đại Joseon.

Phân biệt các loại áo Hanbok

* Hanbok dành cho nữ giới

Hanbok của phụ nữ gồm Jeogori (áo khoác ngoài) và Chima (váy dài).

Jeogori là phần áo ngoài của Hanbok. Nó bao phủ phần cánh tay và phía trên của cơ thể. Cấu tạo cơ bản của Jeogori bao gồm Gil, Git, Dongjeong, Goreum và phần tay áo. Gil là phần lớn nhất của chiếc áo và bao phủ phần phía trước và phía sau cơ thể. Git là dải lụa trang trí cho cổ áo. Dongjeong là phần cổ áo màu trắng có thể tháo rời đặt phía trên git. Goreum là sợi dây thắt lưng của jeogori. Jeogori cho nữ giới có thể có thêm Kkeutdong, một loại cổ tay áo khác màu. Hình dáng của Jeogori dành cho nữ giới đã thay đổi khá nhiều qua thời gian. Jeogori của nữ giới trở nên ngắn hơn trong suốt triều đại vua Joseon, trở nên ngắn nhất vào cuối thế kỷ 19. Tuy nhiên, áo jeogori vẫn dài trên thắt lưng.

Chima là tên gọi của váy truyền thống (và cũng là các loại váy nói chung). Lớp váy trong có tên là Sokchima. Những người phụ nữ thời Goguryo mặc váy Chima trước và áo jeogori ở bên ngoài, phủ lên trên thắt lưng. Váy được may từ vải hình chữ nhật có nếp gấp hoặc hình ống với phần đai xếp nếp. Nó được thắt ở phía trên ngực với dải băng dài. Chiếc váy này che kín cơ thể, do đó che giấu được dáng người của phụ nữ. Điều này là do ảnh hưởng của xã hội Nho giáo.

Sokchima được may theo cách tương tự như váy ngoài. Cho đến đầu thế kỷ 20 khi đai áo được thêm vào và biến đổi thành áo lót không tay hay là váy lót. Khoảng giữa thế kỷ 20, một số loại Chima khoác bên ngoài được mặc cùng với áo lót không tay và khoác bên ngoài bởi Jeogori.

* Hanbok dành cho nam giới

Đối với nam giới, một bộ Hanbok bao gồm có Jeogori dài đến ngang hông, chiếc quần Baji, và bên ngoài sẽ là một chiếc áo choàng Durumagi.

Áo trên – Jeogori dành cho nam giới thường dài hơn của nữ, có thể kéo dài xuống tận eo hoặc thấp hơn. Giống Hanbok cho nữ, Hanbok cho nam cũng có một dải băng thắt ở trước ngực.

Quần Baji ban đầu có ống hẹp để thuận tiện cho việc cưỡi ngựa và săn bắn. Tuy nhiên, khi nghề nông phát triển thì ống quần trở nên rộng hơn để phù hợp cho việc đồng áng. Quần ống rộng cũng khiến cho người mặc thoải mái hơn khi ngồi trên sàn thay vì quần ống hẹp.

Durumagi là loại áo khoác ngoài trong hanbok dành cho nam giới. Áo này thường được mặc ngoài cùng, bên trong là áo Jeogori và quần baji. Durumagi có nghĩa là “áo kín quanh thân”, và cũng có tên gọi khác như Jumagui, Juchaui hay Juui. Durumagi là áo mặc ấm và cũng là áo được dùng cho mục đích nghi lễ.

Photo by Kim Bánh Trôi Nước

Ngoài ra, một bộ Hanbok dành cho nam giới cũng gồm có:

Po là từ nói đến áo choàng ngoài, dành cho nam giới từ thời kỳ Goryeo cho tới thời kỳ Joseon. Durumagi là các loại áo Po khác nhau được mặc để tránh rét. Po được mặc ngoài áo Jeogori và quần Baji và còn có tên gọi là Jumagi, Juchaui hay là Juui.

Jokki là một loại vest trong khi Magoja là tên gọi một loại áo khoác bên ngoài. Mặc dù Jokki và Magoja được sáng tạo ra vào cuối triều đại Joseon khi mà văn hóa phương Tây bắt đầu ảnh hưởng đến Hàn Quốc, những loại áo này vẫn được coi là một phần của trang phục truyền thống. Mỗi loại áo trên được mặc bên ngoài Jeogori tạo sự ấm áp và phong cách. Magoja ban đầu là thiết kế của thời Mãn Châu nhưng đã được giới thiệu đến Hàn Quốc sau khi Heungseon Daewongun, cha đẻ của Vua Gojong trở về từ cuộc lưu đày ở Mãn Châu vào năm 1887. Magoja bắt nguồn từ từ Magwae có nghĩa rằng ông mặc vào thời gian đó để tránh thời tiết lạnh của vùng. Loại áo này giúp giữ ấm cơ thể và mặc khá dễ dàng. Do vậy Magoja đã trở nên phổ biến tại Hàn Quốc. Nó cũng được gọi là “Deot Jeogori” (nghĩa là “áo mặc bên ngoài jeogori”), hay là Magwae.

Magoja không có git, một loại vải dùng để trang trí cổ áo và Goreum (dây buộc), khác với Jeogori và Durumagi. Magoja ban đầu là một loại áo nam, nhưng sau đó đã trở thành loại áo dùng cho 2 giới. Magoja cho nam giới đã có Seop (dây phủ bên ngoài mặt trước) và dài hơn Magoja cho phụ nữ, để hai mặt của phần dưới áo được mở ra. Magoja được làm bằng lụa và được trang trí với một hoặc hai nút mà thường được làm từ hổ phách. Magoja nam, các nút được đính vào phía bên phải, trái với Magoja của phụ nữ.

Phụ nữ Hàn Quốc mặc Magoja trong cuộc sống hàng ngày, đặc biệt là người Kaeseong mặc nó rất thường xuyên. Nó được may từ vải lụa và có màu trung tính để hài hoà với các loại trang phục khác như Jeogori và Chima.

* Hanbok trẻ em

Trang phục Hanbok cho trẻ bao gồm áo vét dài màu xanh (Cheonbok) mặc ra ngoài áo Durumangi và đi kèm với mũ đen có dải sau. Những từ ngữ và biểu tượng liên quan đến đứa trẻ sẽ được thêu lên trên vải. Ban đầu, trang phục này chỉ dành cho con trai của tầng lớp quý tộc (Yangban). Về sau, trang phục này được dùng cho mọi tầng lớp và cho cả các bé gái nhưng kiểu may lại khác nhau.

Các phụ kiện kèm theo

Người Hàn Quốc mặc trang phục Hanbok đi kèm với một số phụ kiện khác như:

Daenggi là một dải băng được dùng để cột chặt và trang trí cho mái tóc dài của phụ nữ. Daenggi có nhiều loại khác nhau như Jebiburi Daenggi, Apdaenggi, Doturak Daenggi và Goidaenggi.

Samo – một loại mũ mặc cùng với dalleyong (áo choàng) như trang phục thường ngày của các quan chức.

Gat – một loại mũ dành cho nam giới trong triều đại Joseon, được các quan chức mặc cùng với po (áo choàng) khi họ ra ngoài.

Bokgeon cũng là một loại mũ dành cho nam giới trong triều đại Joseon, cũng được các quan chức mặc cùng với po (áo choàng) khi đi ra ngoài.

Nambawi – một loại mũ được cả nam và nữ đội vào mùa đông để bảo vệ trán, cổ và tai. Nambawi còn được gọi là pungdaengi.

Hogeon – một loại mũ dành cho nam giới vào cuối triều đại Joseon và giai đoạn hiện đại. Hogeon cũng tương tự như Bokgeon, nhưng phần đỉnh nón được mở ra.

Gulle – một loại mũ dành cho các bé trai và bé gái từ 1 đến 5 tuổi, phần đầu được trang trí cẩn thận để giữ ấm. Vào mùa đông, chiếc mũ thường được làm từ lụa đen. Còn vào mùa xuân và mùa thu, nó thường được làm bằng lụa ngũ sắc.

Daenggi là một dải băng được dùng để cột chặt và trang trí cho mái tóc dài của phụ nữ. Daenggi có nhiều loại khác nhau như Jebiburi Daenggi, Apdaenggi, Doturak Daenggi và Goidaenggi.

Jokduri – một loại vương miện được phụ nữ Hàn sử dụng, thường mặc cùng với wonsam (áo choàng dài của cô dâu trong ngày cưới).

Hwagwan cũng là một loại vương miện dành cho phụ nữ, được trang trí với họa tiết cánh bướm, hạt ngũ sắc và chỉ vàng.

Jobawi – một loại mũ dành cho phụ nữ vào mùa đông. Phần đỉnh nón mở rộng, các cạnh được thiết kế theo hình tròn để giữ ấm tai. Jobawi thường được làm bằng lụa đen với hai dây tua ở mặt trước và mặt sau. Đá quý đôi khi cũng được dùng để trang trí cho dây tua.

Ayam – một loại mũ dành cho phụ nữ vào mùa đông. Ayam không che phủ phần tai như Jobawi và đôi khi được lót bằng lông thú.

Dwikkoji – một loại phụ kiện được phụ nữ Hàn sử dụng trong triều đại Joseon. Dwikkoji dùng để gắn vào bím tóc.

Binyeo – một loại kẹp tóc dùng để giữ chặt vương miện. Ngoài ra, Binyeo còn được dùng để trang trí và khẳng định địa vị của người dùng. Chất liệu, hình dáng và kích thước của Binyeo rất đa dạng.

Norigae là một trong những phụ kiện chính của phụ nữ. Norigae được sử dụng rộng rãi từ hoàng gia cho đến dân thường. Nó được đeo ở phía ngoài áo choàng hay đeo ngang eo, mang đến sự sang trọng cho toàn bộ trang phục.

Hanbok theo phong cách phương Tây

Ngày nay, Hàn Quốc là quê hương của rất nhiều nhà thiết kế thời trang tài năng, những người đã được thế giới công nhận thông qua những thiết kế kết hợp nét đẹp truyền thống và cảm hứng nghệ thuật hiện đại. Nhờ ảnh hưởng của làn sóng văn hóa Hàn Quốc Hallyu, những bộ phim cổ trang, ví dụ như Nàng Dae Jang Geum, được giới thiệu rộng rãi, góp phần đưa hình ảnh trang phục Hanbok đến nhiều nơi trên thế giới. Ngày càng có nhiều người nước ngoài ưa chuộng và mặc Hanbok.

Người Hàn Quốc ngày nay dường như ưa chuộng trang phục được lấy cảm hứng bởi phong cách phương Tây hiện đại hơn trang phục truyền thống. Mặc dù một vài người vẫn duy trì mặc đồ truyền thống trong đời sống hàng ngày, nhưng phần lớn người Hàn Quốc thường chỉ mặc Hanbok trong những dịp đặc biệt như ngày lễ tết hay cưới hỏi. Với mong muốn giữ gìn những giá trị truyền thống và năng lực sáng tạo độc đáo, người Hàn Quốc dần làm mới, cách điệu bộ trang phục Hanbok cho phù hợp với dòng chảy hiện đại.

MÓN ĂN KIM CHI – LINH HỒN ẨM THỰC HÀN QUỐC

Nói đến một “biểu tượng ẩm thực” đặc trưng của Hàn Quốc không thể không nhắc đến kim chi, một trong những món ăn đặc trưng trong văn hóa ẩm thực của người dân nước này. Kim chi là hỗn hợp của các loại rau củ quả (chủ yếu là cải thảo, củ cải, dưa chuột…) và các loại gia vị (ớt, tỏi, hành, gừng, muối, đường…) lên men. Tất cả được phối trộn một cách hài hòa tạo, nên một món ăn với đầy đủ hương vị như chua, cay, mặn, ngọt.

Theo các nghiên cứu, kim chi được con người làm ra từ hơn 4.000 năm trước. Khoảng năm 2030 TCN, người dân đã biết cách ngâm bắp cải vào nước muối, để bảo quản loại rau này sau mỗi vụ thu hoạch. Cách làm này dần trở nên phổ biến khắp Trung Quốc, Mông Cổ, và Triều Tiên. Tuy nhiên, việc xử lý bắp cải được người dân Triều Tiên nâng lên tầng cao mới, qua nhiều cải tiến và sáng tạo để cho ra đời món kim chi ngày nay. 

Vào thời Choson, người dân đã sáng tạo ra khoảng 80 loại kim chi. Giai đoạn từ thời kỳ Tân La Thống Nhất (668-935) đầu triều đại Cao Ly (918-1392) là thời kỳ “hưng thịnh” của món ăn này. Kim chi xuất hiện ở khắp mọi nơi, từ mâm cơm của kẻ nghèo đến bàn tiệc của vua chúa. 

Trong thời kỳ này, kim chi được làm từ các loại rau xanh ngâm với muối hoặc hỗn hợp muối và rượu. Đến những năm 1500, sự xuất hiện của ớt bột và chotkal (hải sản ướp muối lên men) trong kim chi tạo nên hương vị mới ngon miệng hơn. Sự khác nhau về khí hậu của mỗi vùng miền cũng ảnh hưởng đến hương vị của kim chi. Những vùng lạnh hơn sẽ có vị nhạt và cay hơn. 

Theo truyền thống, kim chi được làm vào mùa đông (việc làm kim chi vào mùa đông được gọi là Kimjang), tức là khoảng tháng 11 hàng năm, với số lượng lớn đủ để cả gia đình sử dụng trong suốt nhiều tháng. Sau khi tẩm ướp gia vị hoàn chỉnh, kim chi sẽ được lưu giữ dưới lòng đất trong những chiếc vại bằng đất nung để hỗ trợ quá trình lên men.

Ngày nay, kim chi được đựng trong các thùng chứa chuyên dụng, thậm chí còn có cả những thiết bị để phụ nữ hiện đại có thể làm kim chi quanh năm. 

Trong quá khứ, tất cả phụ nữ Hàn Quốc sau khi kết hôn đều phải học cách làm kim chi dưới sự hướng dẫn của mẹ chồng. Gia vị và công thức làm kim chi đặc biệt của gia đình sẽ được truyền lại qua các thế hệ nàng dâu. Thậm chí, người ta tin rằng kỹ năng làm và bảo quản kim chi được coi là thước đo để đánh giá phụ nữ. Tuy nhiên ngày nay, do cuộc sống bộn bề, phụ nữ hiện đại ít có thời gian để làm kim chi theo cách truyền thống. 

Ngày nay, kim chi là loại thực phẩm “đa năng” nhất, có thể dùng làm nguyên liệu chế biến thành nhiều món ăn, hay đơn giản là ăn trực tiếp trong các bữa ăn của người Hàn Quốc. Có tới hơn 100 loại kim chi, không chỉ phổ biến ở Hàn mà còn được ưa thích tại rất nhiều nước trên thế giới. Mặc dù không ai có thể xác định được kim chi là một loại dưa chua hay salad, nhưng hương vị của nó đủ để chinh phục những người sành ăn nhất. 

Hình ảnh món kim chi cay cay ngon miệng xuất hiện trong phim truyền hình, chương trình truyền hình thực tế, các game show góp phần quảng bá món ăn này ra thế giới. Thậm chí, Hàn Quốc còn xây dựng cả Bảo tàng Kim chi, Quỹ Kim chi, Viện Nghiên cứu Kim chi và đưa hẳn bộ môn khoa học về kim chi vào chương trình học tại các trường đại học và cao đẳng.

Kim chi xứng đáng có được vị thế như vậy không chỉ vì hương vị tuyệt vời mà còn có giá trị dinh dưỡng rất cao, rất có lợi cho sức khỏe và ngăn ngừa một số bệnh tật. Trong 10 gram kim chi có chứa 42 mg vitamin C, bằng 1/2 liều dùng hàng ngày cho một người trưởng thành. Kim chi có nhiều chất xơ, giàu khoáng chất (canxi, sắt…) và các vitamin (B1, B2,…). Tất cả đều là thành phần thiết yếu cho sức khỏe con người. Kim chi cũng chứa ít calo nên tốt cho người ăn kiêng. 

Kim chi là biểu tượng ẩm thực và nét văn hóa của Hàn Quốc. Năm 2013, văn hóa muối kim chi của Hàn Quốc đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Tại Nhật Bản, Hàn Quốc và các nước trong khu vực Đông Nam Á, mỗi người dân tiêu thụ trung bình từ 10-15 kg kim chi mỗi năm. Chỉ tính riêng tại Hàn Quốc, mỗi năm nước này tiêu thụ khoảng 400 tấn kim chi, nhiều hơn bất kỳ một loại rau nào khác.

GUGAK – LOẠI HÌNH ẨM NHẠC TRUYỀN THỐNG CỦA HÀN QUỐC

Hàn Quốc ngày càng trở thành điểm dừng chân của nhiều khách du lịch hơn bởi một phần nhờ vào làn sóng Hallyu. Những fan hâm mộ Kpop và các bộ phim Hàn lãng mạn đều muốn được đi du lịch Hàn Quốc để tận mắt nhìn thấy các địa điểm đã xuất hiện trong phim. Và trong những bộ phim cổ trang thì đôi khi cũng có xuất hiện một vài điệu múa ấn tượng và thú vị. Đó chính là loại hình âm nhạc truyền thống Gugak của Hàn Quốc.

Theo tiếng Hàn, “Gugak” có thể được dịch là âm nhạc dân tộc và nó bao gồm 2 thể loại lớn: nhạc cung đình và nhạc dân gian. Nhạc cung đình gồm nhiều nghi thức và trang trọng hơn, ví dụ: Akk, Dang-ak và Hyang-ak. Còn nhạc dân gian thì được chia thành một số loại như: Pansori, Sanjo, Jeongak, Nongak, Shinawi và Salpuri.

Trong loại hình âm nhạc truyền thống Gugak của Hàn Quốc, nhạc cụ thường được sử dụng là đàn tam thập lục Gayageum, sáo tre Daegeum, trống hình đồng hồ cát Janggu,… Người biểu diễn sẽ kết hợp chúng để tạo ra một bản nhạc hoàn hảo và phù hợp với điệu múa trên sân khấu. Đôi khi có những nghệ sĩ chỉ độc tấu một loại nhạc cụ. Đó là tùy thuộc vào khả năng và sở thích của họ. Các nhịp điệu cơ bản trong âm nhạc dân gian gọi là “Jangdan” và có nhiều mức độ khác nhau. Bao gồm: Jinyang (chậm), Jungmori (trung bình), Jungjungmori (hơi nhanh), Jajinmori (nhanh) và Hwimori (rất nhanh). Hai phong cách thường thấy trong các buổi trình diễn loại hình âm nhạc truyền thống Gugak của Hàn Quốc là Gyemyeonjo (buồn) và Ujo (hùng dũng).

Trong nhạc dân gian của Hàn Quốc thì thể loại Pansori là nổi tiếng nhất. Trước đây, Pansori chỉ là loại hình giải trí dành cho tầng lớp bình dân nhưng sau khi được tầng lớp quý tộc chú ý thì nó mới trở nên phổ biến rộng rãi khắp đất nước. Vào năm 2003, Pansori đã được UNESCO công nhận là “Kiệt tác di sản truyền khẩu và phi vật thể của nhân loại”. Trong buổi biểu diễn Pansori chỉ có một ca sĩ solo (Sorikkun) và một tay trống (Gosu). Hiện nay thì có 5 câu chuyện trong loại hình Pansori thường xuyên được trình diễn và truyền tải các thông điệp khác nhau đến với người nghe. Đó là: Chunhyangga, Simcheongga, Heungbuga, Sugungga và Jeokbyeokka.

TAEKWONDO – MÔN VÕ TRUYỀN THỐNG CỦA HÀN QUỐC

Taekwondo là môn võ thuật truyền thống của Hàn Quốc và là loại hình võ đạo (mudo) thường được tập luyện nhất của nước này. Nó cũng là một trong các môn thể thao phổ biến nhất trên thế giới. Tae có nghĩa là “cước pháp”; Kwon nghĩa là “thủ pháp”; và Do có nghĩa là “Đạo, con đường” (hay “nghệ thuật”). Vì vậy, Taekwondo có nghĩa là “Nghệ thuật đấu võ bằng tay và chân”.

Nguồn gốc của Taekwondo

Võ thuật ở Hàn Quốc có lịch sử lâu đời bắt đầu từ thời cổ đại. Các nghệ thuật chiến đấu truyền thống của Hàn Quốc, có thể bắt nguồn từ thời kỳ Cao Ly năm 37 trước Công nguyên. Người ta đã phát hiện ra tại di tích của mồ mả hoàng gia Muyongchong và Kakchu-chong xây cất trong khoảng từ năm thứ 3 đến năm 427 nhiều bức tranh vẽ trên tường có cảnh những người đàn ông đang tập luyện. Đây có thể là những tài liệu ban đầu mô tả về các kỹ thuật đối kháng ban đầu có tên là Subakhi.

Các kỹ thuật chiến đấu truyền thống Triều Tiên cũng được tập luyện tại Sil La, một vương quốc được thành lập ở đông nam Triều Tiên vào khoảng 20 năm trước triều đại Cao Câu Ly ở phía Bắc. Tại Kyongju, kinh đô trước đây của Tân La, hình hai vị Kim Cang trừ ma diệt quỷ bảo vệ Phật giáo trong tư thế trụ tấn được khắc trên bức tường trong hang động Sokkuram ở đền Pulkuk-sa. Thời gian này, một tổ chức Hwarangdo gây ảnh hưởng rất lớn và làm phong phú thêm cho nền văn hoá và võ thuật Triều Tiên, được thành lập. Con cháu của giới quý tộc ở Tân La đã được tuyển chọn để học tập huấn luyện trong Hwarangdo như là một tổ chức quân đội, giáo dục và xã hội. Các kỹ thuật chiến đấu của Trung Quốc cũng được du nhập và được đưa vào huấn luyện truyền bá trong Hwarangdo với tên gọi Dang Soo (Đường thủ), Gong Soo (Tống thủ).

Nhiều tài liệu cho thấy tổ chức này không chỉ xem việc tập luyện võ thuật như là phần thiết yếu trong huấn luyện quân đội và tăng cường thể chất mà còn phát triển chúng như là một hoạt động giải trí. Các khám phá nghệ thuật cổ như các bức tranh trên tường ở những ngôi mộ của triều đại Cao Câu Ly, các hình ảnh khắc trên đá ở những đền, chùa được xây dựng trong khoảng thời gian của triều đại Silla và nhiều tài liệu cho thấy các thế tấn, kỹ thuật và hình dáng rất giống với các thế tấn và hình dáng của Taekwondo ngày nay.

Trong thời kỳ Cao Ly (918-1392), võ thuật Triều Tiên, lúc bấy giờ được biết nhiều với tên gọi là Subakhi, được tập luyện không chỉ được xem như là một kỹ năng để tăng cường sức khoẻ mà nó còn được khuyến khích tập luyện như một võ thuật có giá trị cao. Có ít nhất là hai tài liệu được ghi chép trong thời gian đó cho thấy rằng Subakhi đã trở nên rất phổ biến đến nỗi nó được đem biểu diễn cho vua xem. Điều này có nghĩa là Subakhi đã được tập luyện như một môn thể thao có tổ chức cho khán giả xem và các chuyên gia cho rằng vào thời gian đó người Hàn Quốc rất thích khía cạnh thi đấu của võ thuật.

Dưới thời nhà Triều Tiên có một quyển sách phát hành về dạy hệ thống các kỹ năng chiến đấu tương tự cách huấn luyện võ thuật ngày nay. Nó đã trở thành phổ biến hơn với công chúng, ngược lại với triều đại Koryo trước đây, võ thuật chỉ độc quyền cho quân đội. Một tài liệu lịch sử viết người dân của tỉnh Chungchong và Cholla đã tụ tập ở một làng tổ chức thi đấu Subakhi. Tài liệu này cho thấy Subakhi đóng một vai trò quan trọng trong hoạt động thể thao quần chúng. Hơn thế nữa, dân chúng muốn tham gia vào quân đội của hoàng gia rất háo hức tập luyện Subakhi bởi vì nó là môn kiểm tra chính trong chương trình tuyển chọn.

Đặc biệt, vua Triều Tiên Chính Tổ (1777-1800) phát hành một bộ sách giáo khoa về phong tục và tập quán Hàn Quốc có tựa đề là Chaemulbo, trong đó nói rằng Subakhi được gọi là Taekkyon, một tên gọi rất tương đồng với tên gọi Taekwondo ngày nay.

Các chuyên gia cho rằng vấn đề quan trọng ở đây không chỉ là tên được thay đổi mà cả kỹ thuật cũng thay đổi một cách đột ngột. Trong giai đoạn lịch sử Subakhi trước đó, kỹ thuật tay được nhấn mạnh. Các tài liệu lịch sử có liên quan đến Taekkyon được xuất bản vào khoảng cuối thế kỷ 19 ghi lại rằng nó là một nghệ thuật được đặt phần lớn trên các kỹ thuật chân. Lúc bấy giờ, Taekkyon thật sự là một môn thi đấu có hệ thống tập trung vào kỹ thuật chân và chiến thuật. Vì vậy thật là rõ ràng trong suốt thời nhà Triều Tiên, Subakhi đã trở thành một môn thể thao quốc gia quan trọng và thu hút sự chú ý của cả hoàng gia lẫn công chúng.

Vào cuối triều đại Chonsun, Subakhi bắt đầu suy tàn vì sự bỏ mặc của hoàng gia cũng như sự ăn sâu của đạo Khổng đề cao giá trị văn chương. Subakhi chỉ tồn tại như một hoạt động giải trí của người dân thường.

Vào cuối thế kỷ 19, quân đội Triều Tiên suy yếu, người Nhật đô hộ đất nước. Sự áp bức của đế quốc Nhật Bản đối với nhân dân Triều Tiên rất hà khắc và việc tập luyện võ thuật được xem nguồn gốc của sự nổi loạn bị cấm đoán. Tuy nhiên, các tổ chức kháng Nhật sử dụng Taekkyon như một phương pháp huấn luyện tinh thần và thể chất. Ngoài ra, các du học sinh Triều Tiên tại Nhật Bản cũng hấp thu được các môn võ mới của Nhật Bản như Karate và Jujitsu. Điều này đã ảnh hưởng rất lớn đến việc hình thành môn võ Taekwondo hiện đại sau này.

Sau giải phóng vào ngày 15/8/1945, những người có nguyện vọng khôi phục lại môn võ thuật cổ truyền Triều Tiên bắt đầu dạy trở lại. Bên cạnh đó, các du học sinh Triều Tiên tại Nhật Bản cũng trở về Triều Tiên và mở các võ đường dạy các kỹ thuật họ tổng hợp từ môn võ truyền thống Triều Tiên với các kỹ thuật tân tiến của Nhật Bản. Các võ đường lớn được thành lập như Chung Do Kwan, Moo Duk kwan, Kwon Bop dojang và Song Moo kwan. Hầu hết đều dùng tên gọi Kong So do hay Tae Soo Do cho môn võ tổng hợp của mình.

Tháng 01/1946, Choi Hong Hi, một sĩ quan trẻ, đã xây dựng phong trào tập luyện võ thuật trong đơn vị của mình. 8 năm sau, trên cương vị Thiếu tướng Tư lệnh Sư đoàn 29 Bộ binh, ông đã thành lập võ đường Oh Do Kwan (Ngã Đạo Quán) tại Yong Dae Ri. Tháng 9/1954, Choi cùng các môn đệ của mình đã biểu diễn các kỹ thuật mới do chính ông tổng hợp trước sự chứng kiến của Tổng thống Rhee Syngman vào tháng 9/1954. Buổi biểu diễn đã gây được ấn tượng lớn đối với Rhee và Choi được bổ nhiệm làm huấn luyện viên trưởng của Chung Do Kwan, bấy giờ là võ đường lớn nhất Hàn Quốc. Đầu năm 1955, một ủy ban đặc biệt được thành lập theo chỉ thị của tổng thống bao gồm các nhân sĩ trí thức, giáo sư, sử gia và các chính khách uy tín để đặt tên cho môn võ mới nhằm quảng bá trong đại chúng. Ngày 11/4/1955, ủy ban công bố tên gọi TaeKwonDo cho môn võ thuật dựa trên nền tảng của môn Taekkyon đã được hiện đại hóa. Tên gọi này chính thức được dùng để thay thế cho những tên gọi cũ như Dang Soo, Gong Soo, Taek Kyon, Kwon Bup,… vốn vẫn được lưu hành trong dân gian.

Cuối cùng vào tháng 9/1959, Hội Taekwondo Hàn Quốc được thành lập (trước đó vốn mang tên là Hiệp hội Tae Soo Do Triều Tiên). Vào thập niên 1960, huấn luyện viên Hàn Quốc bắt đầu ra nước ngoài phổ biến Taekwondo. Tháng 10/1963, Taekwondo đã trở thành môn thi đấu chính thức lần đầu tiên tại Đại hội Thể thao Quốc gia. Đây là bước ngoặt trong lịch sử phát triển của môn võ này.

Ngày 22/3/1966, Liên đoàn Taekwondo quốc tế (International Taekwon-Do Federation – ITF) được thành lập với 9 thành viên sáng lập gồm Việt Nam Cộng hòa, Malaysia, Singapore, Tây Đức, Hoa Kỳ, Thổ Nhĩ Kỳ, Ý, Ai Cập và Hàn Quốc.

Năm 1972, Taekwondo chứng kiến cuộc phân ly lớn sau khi Chủ tịch ITF lưu vong sang Canada và dời trụ sở của ITF về đây sau đó chia làm 3 chi phái: Choi Hong Hwa [con trai của Choi Hong Hi], Chang Ung thành viên IOC tại Bắc Hàn,… Tại Hàn Quốc, Hiệp hội Taekwondo Hàn Quốc thành lập Kukkiwon để tiêu chuẩn hóa kỹ thuật và tổ chức. Giải Vô địch Thế giới lần 1 tại Seoul từ ngày 25 đến 27/5/1973 với 19 quốc gia tham dự. Tại cuộc họp được tổ chức bên lề của giải, một tổ chức mới được thành lập với tên gọi là Liên đoàn Taekwondo Thế giới (World TaeKwonDo Federation – WTF), do Tiến sĩ Un Yong Kim làm chủ tịch. Từ đó, giải Vô địch Taekwondo Thế giới được tổ chức 2 năm một lần.

Hiện nay Liên đoàn Taekwondo Thế giới (WTF) có 193 quốc gia thành viên toàn thế giới, với khoảng 50.000.000 người tập luyện. IOC đã công nhận Taekwondo là môn thể thao quốc tế tại đại hội lần thứ 83 năm 1980, Taekwondo được công nhận là môn thi đấu tại Thế vận hội 2000 và 2004.

Đặc điểm của môn võ Taekwondo

Taekwondo là một môn võ truyền thống có hệ thống nhất và khoa học nhất của Hàn Quốc. Môn này dạy người ta nhiều điều ngoài những kỹ năng chiến đấu về vật lý. Nó là một nguyên tắc thể hiện những cách thức nâng cao tinh thần và cuộc sống qua việc rèn luyện cơ thể và tâm hồn. Nó cũng là một môn thể thao hiện đại đã có tiếng trên trường quốc tế và nằm trong số những môn thi đấu chính thức của các đại hội Olympic. Từ “Taekwondo” bao gồm 3 phần, mặc dù chỉ là một từ “Tae” có nghĩa là bàn chân, cẳng chân hay bước đi. “Kwon” có nghĩa là nắm đấm để chiến đấu. “Do” có nghĩa là đạo, là con đường để đạt tới một mục tiêu. Cả ba phần này đã gộp thành hai khái niệm quan trọng đằng sau từ “Taekwondo”.

Trước hết, Taekwondo là cách thức sử dụng “Tae” và “Kwon”(bàn chân và nắm tay), hoặc tất cả bộ phận trong cơ thể được chân và nắm đấm thể hiện. Thứ hai là, Taekwondo là con đường để kiểm soát hoặc làm dịu lại các trận chiến đấu và giữ được sự yên bình. Khái niệm này xuất phát từ ý nghĩa của “Tae” và “Kwon”, đặt nắm đấm dưới sự kiểm soát (hay theo nghĩa đen là “bước lên trên nắm đấm”). Do đó, ý nghĩa toàn diện của nó là con đường đúng để sử dụng tất cả các bộ phận trong cơ thể hầu như chấm dứt các cuộc chiến đấu và giúp xây dựng một thế giới tốt hơn và hòa bình hơn.

Taekwondo dựa trên sự thống nhất giữa các yếu tố hơi thở, sự chuyển động, độ căng của cơ bắp và lý trí. Yếu tố lý trí trong Taekwondo được đặt lên hàng đầu. Lý trí ở đây thể hiện sự tĩnh lại của tinh thần. Lý trí ở đây còn thể hiện ở tư tưởng “tận triệt”. Sự tấn công của kẻ thù không chỉ để phản kháng lại sự tấn công, đây không phải là sự phản kháng có tính chất tình huống, mà là sự phản kháng ở mức triệt để: phản kháng để kẻ thù không thể lấy lại sức mạnh mà phản công, triệt hạ một đối thủ trong khi vẫn có thể có những đối thủ khác. Hơi thở cũng là một yếu tố quan trọng. Trên thực tế, Taekwondo sử dụng nhiều đòn chân. Như vậy, hơi thở góp phần vào làm cho các chuyển động của cơ thể khi ra đòn được uyển chuyển, linh hoạt và nhịp nhàng – một yếu tố để thành công.

Rèn luyện lâu dài, gắn bó với nó, nhiều võ sinh coi Taekwondo như “cuộc sống” thứ hai. Đối với họ, Taekwondo vượt ra khỏi chức năng là môn võ thuật (martial art) hay một môn thể thao (sport game), mà trở thành một cuộc sống với ý nghĩ của nó, bao gồm: những nguyên tắc, nhân sinh quan, thế giới quan, trách nhiệm,…

Nguyên tắc nữa của Taekwondo là yếu tố: dứt điểm. Đây là điểm gặp nhau của quá trình: sức mạnh lý trí, sự đối kháng.

Tuy nhiên, để rèn luyện sự thống nhất của các yếu tố trên còn có hình thức “thiền định”. Ngồi thiền là để tìm đến sự tĩnh tại ở mức độ cao nhất của lý trí. Khi lý trí được tĩnh lại và không bị ảnh hưởng bởi các yếu tố bên ngoài thì sẽ trở nên vô cùng nhạy bén. Ngồi thiền còn để tăng sức mạnh của lý trí, khi đó sức mạnh cơ bắp sẽ được lý trí bổ sung. Ngoài ra ngồi thiền còn để luyện tập khí công, giúp hơi thở đều đặn. Tuy nhiên, “thiền” không phải là yếu tố đặc trưng của Taekwondo, trên thực tế hầu như các môn võ Đông Á đều mang yếu tố này.

Tinh thần Taekwondo, cũng giống như tinh thần của võ sĩ đạo Nhật Bản, làm cho sức mạnh trong cuộc sống hàng ngày và trong phát triển kinh tế Hàn Quốc. Nếu có dịp du lịch Hàn Quốc, du khách đừng quên khám phá về môn võ truyền thống này của xứ sở Kim Chi nhé!

LINH VẬT

Nằm trong vùng văn hóa phương Đông, Hàn Quốc mang trong mình những nét đặc sắc độc đáo về văn hóa. Cùng với sự phát triển của nhịp sống hiện đại, đất nước này vẫn bảo lưu trong mình những nét văn hóa vô cùng độc đáo. Trong nhịp sống văn hóa cổ truyền đó, cũng giống như những nền văn hóa khác, người Hàn Quốc tôn thờ hình ảnh của 7 linh vật đã sống trong tiềm thức mỗi con người.

Rồng

Trong đời sống tâm linh của người dân Châu Á, rồng là loài vật huyền thoại có sức mạnh phi thường cùng với ba linh vật thiêng liêng: Lân, Quy, Phụng. Nếu trong văn hóa phương Tây, rồng có khả năng “hét” ra lửa và sống trong hang động núi lửa, trong quan niệm của người Hàn Quốc loài rồng liên quan đến nước và nông nghiệp.

Loài rồng này sống trong nước và có khả năng “hô mưa gọi gió”, giúp đỡ mùa màng cho người nông dân. Vì mang trong mình sứ mệnh cao cả của đất trời, vũ trụ, là quý nhân phù trợ đứng đầu trong Tứ linh, hình tượng rồng luôn nổi bật trong điêu khắc và nghệ thuật.

Đặc biệt, hình ảnh rồng ngậm hòn ngọc Yeouiju hay giơ cao móng vuốt ôm lấy Yeouiju, uốn mình dũng mãnh trên không trung vẫn gây nhiều cảm xúc cho nghệ nhân và người xem. Rồng chính là những con rắn khổng lồ biến thành, khi ngậm được ngọc cầu Yeouiju từ trên trời rơi xuống, rắn sẽ hóa thành Rồng mà “ôm mây cuộn sóng”.

Samjoko

Loài chim huyền vũ Samjoko từng là biểu tượng lịch sử một thời ở triều đại vua chúa Hàn Quốc. Dưới triều đại Goguryeo (năm 37 trước Công nguyên – 668 Công nguyên), hình ảnh quạ ba chân là biểu tượng của sức mạnh, quyền năng, chúng còn được xem trọng hơn loài Rồng và Phượng Hoàng.

Quạ ba chân còn được gọi là quạ vàng ba chân, là loài chim thần kéo chở Mặt Trời trong truyền thuyết của người Trung Quốc. Trong thần thoại Đông Á, quạ ba chân được coi là biểu tượng của Mặt Trời, người thời xưa nhìn thấy vết đen của Mặt Trời, cho rằng đó là do có loài quạ đen bay đến. Vì loài chim này có quan hệ với Mặt Trời và có màu vàng nên họ gọi loài tiên thú này là quạ vàng. Hình ảnh quạ vàng cũng xuất hiện trong bộ phim cổ trang nổi tiếng Hàn Quốc Truyền thuyết Jumong (dưới thời triều đại Goguryeo).

Bonghwang

Nằm trong Tứ đại Linh vật, Bonghwang là tên loài chim Phượng Hoàng huyền thoại trong văn hóa dân gian của người Đông Á. Chúng được xem là vua của các loài chim, ngự trị tất cả các loài chim khác. Bonghwang mang hình dáng của nhiều loài động vật ghép thành, với đầu gà, hàm én, cổ rắn, lưng rùa, chân hươu, đuôi cá và có bộ lông vũ ngũ màu tượng trưng cho Ngũ hành tuyệt đẹp.

Phượng hoàng Bonghwang tượng trưng cho 6 thiên thể của vũ trụ, trong đó đầu là Trời, mắt là Mặt Trời, lưng là Mặt Trăng, cánh là gió, chân là đất, đuôi là các hành tinh khác. Với ý nghĩa to lớn đó, người Trung Quốc rất xem trọng loài Bonghwang linh thiêng này. Chúng thậm chí còn thay thế hình ảnh gà trống trong 12 Chi trong cung hoàng đạo Trung Quốc.

Tại Hàn Quốc, Bonghwang không chỉ xuất hiện trong truyền thuyết mà còn là biểu tượng cao quý của dòng dõi hoàng gia, đồng thời là biểu tượng đầy quyền lực của các đời tổng thống. Trong ngôi Nhà Xanh Cheong Wa Dae, nơi ở và làm việc của các đời Tổng thống Hàn Quốc, cũng đặt một bức tượng Phượng Hoàng quyền quý.

Haechi

Trở thành biểu tượng văn hóa cho Seoul từ năm 2009, Haechi hay Haitai, mang lại may mắn và hi vọng cho người dân Seoul, Haechi có hình dáng của kỳ lân với chiếc sừng giữa đầu.

Trong thần thoại Hàn Quốc, Haechi là vị thần công lý và bảo hộ chống lại lửa. Với khả năng nuốt lửa, hóa giải những điềm xấu. Haechi thường được đặt tại lối ra vào ở cung điện hoàng gia và các tòa nhà bề thế để bảo vệ an toàn cho chủ nhà. Nếu từng tới Cung điện Hoàng gia Gyeongbok, hẳn du khách cũng đã thấy hai chú kỳ lân Haechi này.

Linh vật huyền thoại Haechi còn xuất hiện trong văn hóa dân gian của nhiều nước châu Á. Người Trung Quốc gọi chúng là Xiezhi và phổ biến trong loại hình kiến trúc cổ Joseon (Triều Tiên) và Trung Hoa. Một trong Tứ đại Linh vật phương Đông này không chỉ chống lại thiên tai hỏa hoạn mà còn kị được sự đổ vỡ và những rạn nứt trong mối quan hệ giữa con người với nhau.

Chollima

Giống như loài ngựa trắng có cánh Pegasus của thần thoại Hy Lạp, Chollima trong văn hóa dân gian Hàn Quốc cũng sở hữu đôi cánh sải rộng. Tương truyền, vì con người thất bại trong việc thuần hóa loài ngựa siêu phàm này, chúng đã tự bay lên trời, cho đến khi sứ giả đích thân lên mời, Pegasus mới chịu quay về Trái Đất và chịu thuần hóa.

Ngày nay, với ý nghĩa biểu trưng cho sức mạnh và sự phát triển, Chollima trở thành biểu tượng của một huyện ở Hàn Quốc, là tên của đội bóng đá quốc gia, của hãng phim…

Dokkaebi

Dokkaebi là con vật thần thoại, xuất hiện nhiều trong những câu chuyện dân gian truyền miệng của Hàn Quốc. Mặc dù có khuôn mặt đáng sợ và dữ dằn nhưng Dokkaebi được coi là một sinh vật tinh nghịch, hay đùa tếu và vô hại.

Dokkaebi có thể có bất cứ thứ gì chúng muốn còn nhờ đũa thần Bangmang. Chúng hay trêu đùa người xấu và mang tài lộc cũng như sức khỏe đến cho người tốt. Như những đứa trẻ còn mải chơi, Dokkaebi còn rất thích tham gia trò đấu vật Ssireum. Nếu muốn thắng chúng trong trò chơi này, bạn phải là một đối thủ thông minh, luôn nhắm đánh vào chân và quật ngã chúng về phía bên phải.

Các du khách sẽ nhận thấy biểu tượng Dokkaebi xuất hiện trên lá cờ Quỷ Đỏ của đội cổ vũ bóng đá Hàn Quốc. Chúng được xem là linh vật mang lại may mắn cho các tuyển thủ quốc gia.

Gumiho

Là hình tượng mang lại nhiều cảm hứng nghệ thuật, Gumiho xuất hiện thường xuyên trong các bộ phim đình đám xứ Hàn như Bạn gái tôi là Hồ Ly (2010), Gia tộc Hồ Ly (2006), Yobi – Cáo 5 đuôi (2007)…

Truyền thuyết kể lại rằng, Gumiho (hay còn gọi là Lục vĩ ma hồ, Cáo ma 6 đuôi) là con cáo đã thành tinh sau khi tu luyện được 1000 năm. Lúc này, chúng có khả năng biến hóa cao siêu, và thường biến thành các cô gái vô cùng xinh đẹp, có sức hấp dẫn kì lạ để quyến rũ đàn ông rồi tìm cách hút máu hoặc ăn gan, nuốt tim họ. Ở một số câu chuyền dân gian khác, Gumiho vẫn giữ được những đặc tính của loài cáo như vẫn thích ăn thịt gà. Một số khác lại miêu tả chúng là loài lai giữa người và cáo và có thể biến thành đàn ông để quyến rũ và hãm hại phụ nữ.

CÁC BIỂU TƯỢNG VĂN HÓA KHÁC CỦA “XỨ SỞ KIM CHI”

Di sản in trên gỗ truyền thống: Đây là nghệ thuật in trên phiến gỗ bắt đầu từ thế kỷ thứ 8. Từ năm 918 – 1392, một thường dân triều đại Goryeo đã làm ra bộ kinh Phật Koreana và được công nhận là bản chạm khắc lâu đời nhất. Đây cũng được xem là di sản văn hóa thế giới được UNESCO công nhận năm 1995.

Nghệ thuật tranh dân gian: Những bức tranh dân gian về phong cảnh, hoa lá, chim muông, cuộc sống hằng ngày của con người,… được các nghệ sĩ tầng lớp thấp của xã hội cũ sáng tác. Theo thời gian nó trở thành một tác phẩm nghệ thuật truyền thống độc đáo của Hàn Quốc được trưng bày trong nhà nhằm thể hiện mong muốn và khát vọng về cuộc sống hạnh phúc, an bình. Nhắc đến nghệ thuật tranh dân gian là phải nhắc đến Hàn Quốc, bởi đây là nơi khởi nguồn cảm hứng cho nhiều tác phẩm nối liền vào những thời đại sau đó.

Sesi: Đây là nghi lễ được cử hành vào thời điểm giao mùa trong năm và ngày Tết Nguyên Đán. Vào những đêm ngày 15 tháng Giêng hàng năm, nghi lễ quỳ lạy những người cao tuổi trong gia đình với mong muốn báo hiếu và chúc thọ cho họ và con cháu được nhận bì lì xì từ người lớn. Đến ngày nay, nghi lễ này vẫn duy trì và được xem là một trong những nét văn hóa truyền thống của người Hàn Quốc.

Vậy là thông qua bài viết này, du khách đã biết được các biểu tượng đặc trưng riêng của “xứ sở Kim Chi”. Hãy đăng ký tham gia tour Hàn Quốc của chúng tôi để có cơ hội khám phá nhiều hơn về những nét đặc trưng trong văn hóa của đất nước xinh đẹp này nhé! Chúc du khách có được những hiểu biết bổ ích!